Hệ thống T3H Hà Nội

Điểm đến của học viên Công nghệ thông tin.

Học Thiết kế đồ họa

Ai cũng có thể học được.

Lập trình PHP

Ưu đãi sinh viên với mức học phí thấp nhất.

Học lập trình di động Android

Ngành hot nhất lập trình hiện nay.

Cơ hội nhận học bổng cho các học viên xuất sắc tại T3H

Sau khi hoàn thành xong khóa học Học viên sẽ được cấp chứng chỉ của ĐHKHTN ĐH Quốc Gia TP HCM.

Hiển thị các bài đăng có nhãn t3h hà nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn t3h hà nội. Hiển thị tất cả bài đăng

16/4/15

T3H Hà Nội chia sẻ kiến thức Testing - Ca kiểm thử

Cốt lõi của kiểm thử phần mềm dựa trên phân tích động là việc xác định
tập các ca kiểm thử sao cho chúng có khả năng phát hiện nhiều nhất các lỗi
(có thể có) của hệ thống cần kiểm thử. Vậy cái gì cần đưa vào các ca kiểm
thử? Rõ ràng thông tin đầu tiên là đầu vào. Đầu vào có hai kiểu: tiền điều
kiện (pre-condition) - tức là điều kiện cần thỏa mãn trước khi tiến hành ca
kiểm thử - và dữ liệu đầu vào thực sự được xác định bởi phương pháp kiểm
thử. Thông tin tiếp theo cần đưa vào là đầu ra mong đợi. Cũng có hai loại
đầu ra: hậu điều kiện (post-condition) và dữ liệu đầu ra thực sự. Phần đầu
ra của ca kiểm thử thường hay bị bỏ quên vì nó là phần khó xác định. Giả sử
ta cần kiểm thử phần mềm tìm đường đi tối ưu cho máy bay khi cho trước
các ràng buộc về hành lang bay và dữ liệu về thời tiết trong ngày của chuyến
bay. Đường đi tối ưu của máy bay thực sự là gì? Có nhiều câu trả lời cho
câu hỏi này. Câu trả lời lý thuyết là giả thiết về sự tồn tại của một cây đũa
thần (oracle) biết được tất cả các câu trả lời. Câu trả lời thực tế, được gọi
là kiểm thử tham chiếu, là hệ thống được kiểm thử dưới sự giám sát của các
chuyên gia về lĩnh vực ứng dụng của phần mềm, những người có thể phán
xét xem liệu các dữ liệu đầu ra đối với việc tiến hành trên các dữ liệu đầu
vào của ca kiểm thử có chấp nhận được hay không.
Hoạt động kiểm thử dẫn đến việc thiết lập các tiền điều kiện cần thiết,
việc cung cấp các ca kiểm thử, quan sát dữ liệu đầu ra và so sánh chúng với
các đầu ra mong đợi để xác định phát hiện các lỗi/khiếm khuyết (có thể có)
của sản phẩm phần mềm.

Chỉ số của ca kiểm thử
Mục đích
Tiền điều kiện
Đầu vào
Đầu ra mong đợi
Hậu điều kiện
Lịch sử thực hiện ca kiểm thử
Ngày.....Kết quả thực tế....Phiên bản....Kiểm thử viên 

Hình 1.2 mô tả các thông tin cơ bản trong một ca kiểm thử được phát
triển đầy đủ, chủ yếu là để trợ giúp việc quản lý. Các ca kiểm thử cần phải
định danh bằng tên/chỉ số và lý do tồn tại (chẳng hạn đặc tả nhu cầu tương
ứng là một lý do). Cũng nên bổ sung thêm lịch sử tiến hành của một ca kiểm
thử bao gồm cả việc chúng được thực hiện bởi ai và khi nào, kết quả của
mỗi lần thực hiện ra sao, qua hay thất bại và được thực hiện trên phiên bản
nào của phần mềm. Với các ca kiểm thử cho các hoạt động kiểm thử giao
diện người dùng, ngoài thông tin về đầu vào, chúng ta cần bổ sung thêm các
thông tin về trình tự nhập các đầu vào cho giao diện. Tóm lại, ta cần nhận
thức rằng ca kiểm thử ít nhất cũng quan trọng như mã nguồn. Các ca kiểm
thử cần được phát triển, kiểm tra, sử dụng, quản lý và lưu trữ một cách khoa
học.

T3H Chúc các bạn học tốt môn kiểm thử phần mềm Testing

15/4/15

Các thuật ngữ và định nghĩa cơ bản về kiểm thử Phần 2

Kiểm thử: Rõ ràng việc kiểm thử liên quan đến các khái niệm trên: lỗi,
sai, thất bại và sự cố. Có hai mục đích chính của một phép thử: tìm thất bại
hoặc chứng tỏ việc tiến hành của phần mềm là đúng đắn.
Vai trò của kiểm thử phần mềm: Kiểm thử phần mềm đóng vai trò
quan trọng trong việc đánh giá và thu được chất lượng cao của sản phẩm
phần mềm trong quá trình phát triển. Thông qua chu trình “ kiểm thử - tìm
lỗi - sửa lỗi”, ta hy vọng chất lượng của sản phẩm phần mềm sẽ được cải
tiến. Mặt khác, thông qua việc tiến hành kiểm thử mức hệ thống trước khi
cho lưu hành sản phẩm, ta biết được sản phẩm của ta tốt ở mức nào. Vì
thế, nhiều tác giả đã mô tả việc kiểm thử phần mềm là một quy trình kiểm
chứng để đánh giá và tăng cường chất lượng của sản phẩm phần mềm. Quy
trình này gồm hai công việc chính là phân tích tĩnh và phân tích động.
• Phân tích tĩnh: Việc phân tích tĩnh được tiến hành dựa trên việc khảo
sát các tài liệu được xây dựng trong quá trình phát triển sản phẩm như
tài liệu đặc tả nhu cầu người dùng, mô hình phần mềm, hồ sơ thiết
kế và mã nguồn phần mềm. Các phương pháp phân tích tĩnh truyền
thống bao gồm việc khảo sát đặc tả và mã nguồn cùng các tài liệu thiết
kế. Các kỹ thuật khảo sát này sẽ được giới thiệu trong chương 4. Người
ta cũng có thể dùng các kỹ thuật phân tích hình thức như kiểm chứng
mô hình (model checking) và chứng minh định lý (theorem proving)
để chứng minh tính đúng đắn của thiết kế và mã nguồn. Các kỹ thuật
này tương đối phức tạp và nằm ngoài khuôn khổ của cuốn giáo trình
này. Công việc này không động đến việc thực thi chương trình mà chỉ
duyệt, lý giải về tất cả các hành vi có thể của chương trình khi được
thực thi. Tối ưu hóa các chương trình dịch là các ví dụ về phân tích
tĩnh.
• Phân tích động: Phân tích động liên quan đến việc thực thi chương
trình để phát hiện những thất bại có thể có của chương trình, hoặc
quan sát các tính chất nào đó về hành vi và hiệu quả (performance).
Vì gần như không thể thực thi chương trình trên tất cả các dữ liệu đầu
vào có thể, ta chỉ có thể chọn một tập con các dữ liệu đầu vào để thực
thi, gọi là các “ca kiểm thử”. Chọn như thế nào để được các bộ dữ liệu
đầu vào hiệu quả (tức là các bộ dữ liệu có xác suất phát hiện thất bại
(nếu có) cao hơn là công việc cần suy nghĩ và là nội dung chính của
các giáo trình này.
Bằng việc phân tích tĩnh và động, người kiểm thử muốn phát hiện nhiều
lỗi nhất có thể được để chúng có thể được sửa ở giai đoạn sớm nhất trong
quá trình phát triển phần mềm. Phân tích tĩnh và động là hai kỹ thuật bổ
sung cho nhau và cần được làm lặp đi lặp lại nhiều trong quá trình kiểm thử.
Ca kiểm thử: Mỗi ca kiểm thử có một tên và được liên kết với một hành
vi của chương trình. Ca kiểm thử gồm một tập các dữ liệu đầu vào và một
xâu các giá trị đầu ra mong đợi đối với phần mềm.

Hình 1.1 mô tả vòng đời của việc kiểm thử ứng với mô hình thác nước.
Lưu ý rằng trong giai đoạn phát triển phần mềm, lỗi có thể được đưa vào
tại các gia đoạn đặc tả yêu cầu, thiết kế và lập trình. Các lỗi này có thể tạo
ra những sai lan truyền sang các phần còn lại của quá trình phát triển. Một
nhà kiểm thử lỗi lạc đã tóm tắt vòng đời này như sau: Ba giai đoạn đầu là
“đưa lỗi vào”, giai đoạn kiểm thử là để tìm lỗi, và ba giai đoạn cuối là “khữ
lỗi đi” [Pos90]. Bước sửa sai là cơ hội mới cho việc đưa vào lỗi (và các sai
mới). Vì vậy, việc sửa sai này có thể làm cho phần mềm từ đúng trở thành
sai. Trong trường hợp này, việc sửa sai là không đầy đủ. Kiểm thử hồi quy
(sẽ được giới thiệu trong chương 11) là giải pháp tốt để giải quyết vấn đề
này.

Các thuật ngữ trên đây cho thấy các ca kiểm thử chiếm vị trí trung tâm
trong việc kiểm thử dựa trên phân tích động. Quá trình kiểm thử dựa trên
phân tích động được chia thành các buớc sau: lập kế hoạch kiểm thử, phát
triển ca kiểm thử, chạy các ca kiểm thử và đánh giá kết quả kiểm thử. Tiêu
điểm của cuốn giáo trình này là việc xác định tập hữu ích các ca kiểm thử,
tức là các ca kiểm thứ giúp ta cải tiến tốt hơn chất lượng của sản phẩm.

8/4/15

Kiểm tra phần mềm là gì?

Thực ra KTPM là công việc mà bất cứ người nào từng tham gia phát triển phần mềm (PTPM) đều biết và từng làm. Theo nghĩa thông thường nhất, KTPM bao gồm việc “chạy thử” PM hay một chức năng của PM, xem nó “chạy” đúng như mong muốn hay không. Việc kiểm tra này có thể thực hiện từng chặng, sau mỗi chức năng hoặc module được phát triển, hoặc thực hiện sau cùng, khi PM đã được phát triển hoàn tất.

KTPM đứng ở vị trí hết sức nhạy cảm, nó là bước đệm giữa giai đoạn xây dựng PM và sử dụng PM, trước khi giao sản phẩm hoàn chỉnh cho khách hàng. Bạn có thể tham khảo bài “Tổng quan các mô hình phát triển phần mềm” trong TGVT A số tháng 8/2005 (ID: A0508_106) để biết vị trí của KTPM trong các mô hình PTPM.


CÁC MỨC ĐỘ CỦA KTPM

Thực tế, KTPM không đơn giản như nhiều người thường nghĩ, công việc này có nhiều mức độ khác nhau và có mối tương quan với các chặng phát triển trong dự án PTPM. Hình 1 cho thấy 4 mức độ cơ bản của KTPM và hình 2 cho thấy mối tương quan với các chặng PTPM trong mô hình V-model.

Phần sau sẽ làm rõ chi tiết về các mức độ KTPM, do một số thuật ngữ không có từ tương đương sát nghĩa trong tiếng Việt, mặt khác để các bạn tiện tham khảo sau này, chúng tôi xin giữ nguyên một số thuật ngữ gốc tiếng Anh.

1. Unit Test – Kiểm tra mức đơn vị

Để có thể hiểu rõ về Unit Test, khái niệm trước tiên ta cần làm rõ: thế nào là một đơn vị PM (Unit)?

Một Unit là một thành phần PM nhỏ nhất mà ta có thể kiểm tra được. Theo định nghĩa này, các hàm (Function), thủ tục (Procedure), lớp (Class), hoặc các phương thức (Method) đều có thể được xem là Unit.

Vì Unit được chọn để kiểm tra thường có kích thước nhỏ và chức năng hoạt động đơn giản, chúng ta không khó khăn gì trong việc tổ chức, kiểm tra, ghi nhận và phân tích kết quả kiểm tra. Nếu phát hiện lỗi, việc xác định nguyên nhân và khắc phục cũng tương đối dễ dàng vì chỉ khoanh vùng trong một đơn thể Unit đang kiểm tra. Một nguyên lý đúc kết từ thực tiễn: thời gian tốn cho Unit Test sẽ được đền bù bằng việc tiết kiệm rất nhiều thời gian và chi phí cho việc kiểm tra và sửa lỗi ở các mức kiểm tra sau đó.

Unit Test thường do lập trình viên thực hiện. Công đoạn này cần được thực hiện càng sớm càng tốt trong giai đoạn viết code và xuyên suốt chu kỳ PTPM. Thông thường, Unit Test đòi hỏi kiểm tra viên có kiến thức về thiết kế và code của chương trình. Mục đích của Unit Test là bảo đảm thông tin được xử lý và xuất (khỏi Unit) là chính xác, trong mối tương quan với dữ liệu nhập và chức năng của Unit. Điều này thường đòi hỏi tất cả các nhánh bên trong Unit đều phải được kiểm tra để phát hiện nhánh phát sinh lỗi. Một nhánh thường là một chuỗi các lệnh được thực thi trong một Unit, ví dụ: chuỗi các lệnh sau điều kiện If và nằm giữa then … else là một nhánh. Thực tế việc chọn lựa các nhánh để đơn giản hóa việc kiểm tra và quét hết Unit đòi hỏi phải có kỹ thuật, đôi khi phải dùng thuật toán để chọn lựa.

Cũng như các mức kiểm tra khác, Unit Test cũng đòi hỏi phải chuẩn bị trước các tình huống (test case) hoặc kịch bản (script), trong đó chỉ định rõ dữ liệu vào, các bước thực hiện và dữ liệu mong chờ sẽ xuất ra. Các test case và script này nên được giữ lại để tái sử dụng.

2. Integration Test – Kiểm tra tích hợp

Integration test kết hợp các thành phần của một ứng dụng và kiểm tra như một ứng dụng đã hoàn thành. Trong khi Unit Test kiểm tra các thành phần và Unit riêng lẻ thì Intgration Test kết hợp chúng lại với nhau và kiểm tra sự giao tiếp giữa chúng.

Integration Test có 2 mục tiêu chính:

- Phát hiện lỗi giao tiếp xảy ra giữa các Unit.
- Tích hợp các Unit đơn lẻ thành các hệ thống nhỏ (subsystem) và cuối cùng là nguyên hệ thống hoàn chỉnh (system) chuẩn bị cho kiểm tra ở mức hệ thống (System Test).
Trong Unit Test, lập trình viên cố gắng phát hiện lỗi liên quan đến chức năng và cấu trúc nội tại của Unit. Có một số phép kiểm tra đơn giản trên giao tiếp giữa Unit với các thành phần liên quan khác, tuy nhiên mọi giao tiếp liên quan đến Unit thật sự được kiểm tra đầy đủ khi các Unit tích hợp với nhau trong khi thực hiện Integration Test.

Trừ một số ít ngoại lệ, Integration Test chỉ nên thực hiện trên những Unit đã được kiểm tra cẩn thận trước đó bằng Unit Test, và tất cả các lỗi mức Unit đã được sửa chữa. Một số người hiểu sai rằng Unit một khi đã qua giai đoạn Unit Test với các giao tiếp giả lập thì không cần phải thực hiện Integration Test nữa. Thực tế việc tích hợp giữa các Unit dẫn đến những tình huống hoàn toàn khác.

Một chiến lược cần quan tâm trong Integration Test là nên tích hợp dần từng Unit. Một Unit tại một thời điểm được tích hợp vào một nhóm các Unit khác đã tích hợp trước đó và đã hoàn tất (passed) các đợt Integration Test trước đó. Lúc này, ta chỉ cần kiểm tra giao tiếp của Unit mới thêm vào với hệ thống các Unit đã tích hợp trước đó, điều này làm cho số lượng kiểm tra sẽ giảm đi rất nhiều, sai sót sẽ giảm đáng kể.

Có 4 loại kiểm tra trong Integration Test:

- Kiểm tra cấu trúc (structure): Tương tự White Box Test (kiểm tra nhằm bảo đảm các thành phần bên trong của một chương trình chạy đúng), chú trọng đến hoạt động của các thành phần cấu trúc nội tại của chương trình chẳng hạn các lệnh và nhánh bên trong.
- Kiểm tra chức năng (functional): Tương tự Black Box Test (kiểm tra chỉ chú trọng đến chức năng của chương trình, không quan tâm đến cấu trúc bên trong), chỉ khảo sát chức năng của chương trình theo yêu cầu kỹ thuật.
- Kiểm tra hiệu năng (performance): Kiểm tra việc vận hành của hệ thống.
- Kiểm tra khả năng chịu tải (stress): Kiểm tra các giới hạn của hệ thống.

3. System Test - Kiểm tra mức hệ thống

Mục đích System Test là kiểm tra thiết kế và toàn bộ hệ thống (sau khi tích hợp) có thỏa mãn yêu cầu đặt ra hay không.

System Test bắt đầu khi tất cả các bộ phận của PM đã được tích hợp thành công. Thông thường loại kiểm tra này tốn rất nhiều công sức và thời gian. Trong nhiều trường hợp, việc kiểm tra đòi hỏi một số thiết bị phụ trợ, phần mềm hoặc phần cứng đặc thù, đặc biệt là các ứng dụng thời gian thực, hệ thống phân bố, hoặc hệ thống nhúng. Ở mức độ hệ thống, người kiểm tra cũng tìm kiếm các lỗi, nhưng trọng tâm là đánh giá về hoạt động, thao tác, sự tin cậy và các yêu cầu khác liên quan đến chất lượng của toàn hệ thống.

Điểm khác nhau then chốt giữa Integration Test và System Test là System Test chú trọng các hành vi và lỗi trên toàn hệ thống, còn Integration Test chú trọng sự giao tiếp giữa các đơn thể hoặc đối tượng khi chúng làm việc cùng nhau. Thông thường ta phải thực hiện Unit Test và Integration Test để bảo đảm mọi Unit và sự tương tác giữa chúng hoạt động chính xác trước khi thực hiện System Test.

Sau khi hoàn thành Integration Test, một hệ thống PM đã được hình thành cùng với các thành phần đã được kiểm tra đầy đủ. Tại thời điểm này, lập trình viên hoặc kiểm tra viên (tester) bắt đầu kiểm tra PM như một hệ thống hoàn chỉnh. Việc lập kế hoạch cho System Test nên bắt đầu từ giai đoạn hình thành và phân tích các yêu cầu. Phần sau ta sẽ nói rõ hơn về một quy trình System Test cơ bản và điển hình.

System Test kiểm tra cả các hành vi chức năng của phần mềm lẫn các yêu cầu về chất lượng như độ tin cậy, tính tiện lợi khi sử dụng, hiệu năng và bảo mật. Mức kiểm tra này đặc biệt thích hợp cho việc phát hiện lỗi giao tiếp với PM hoặc phần cứng bên ngoài, chẳng hạn các lỗi “tắc nghẽn” (deadlock) hoặc chiếm dụng bộ nhớ. Sau giai đoạn System Test, PM thường đã sẵn sàng cho khách hàng hoặc người dùng cuối cùng kiểm tra để chấp nhận (Acceptance Test) hoặc dùng thử (Alpha/Beta Test).

Đòi hỏi nhiều công sức, thời gian và tính chính xác, khách quan, System Test thường được thực hiện bởi một nhóm kiểm tra viên hoàn toàn độc lập với nhóm phát triển dự án.

Bản thân System Test lại gồm nhiều loại kiểm tra khác nhau, phổ biến nhất gồm:
- Kiểm tra chức năng (Functional Test): bảo đảm các hành vi của hệ thống thỏa mãn đúng yêu cầu thiết kế.
- Kiểm tra khả năng vận hành (Performance Test): bảo đảm tối ưu việc phân bổ tài nguyên hệ thống (ví dụ bộ nhớ) nhằm đạt các chỉ tiêu như thời gian xử lý hay đáp ứng câu truy vấn…
- Kiểm tra khả năng chịu tải (Stress Test hay Load Test): bảo đảm hệ thống vận hành đúng dưới áp lực cao (ví dụ nhiều người truy xuất cùng lúc). Stress Test tập trung vào các trạng thái tới hạn, các “điểm chết”, các tình huống bất thường…
- Kiểm tra cấu hình (Configuration Test)
- Kiểm tra khả năng bảo mật (Security Test): bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật của dữ liệu và của hệ thống.
- Kiểm tra khả năng phục hồi (Recovery Test): bảo đảm hệ thống có khả năng khôi phục trạng thái ổn định trước đó trong tình huống mất tài nguyên hoặc dữ liệu; đặc biệt quan trọng đối với các hệ thống giao dịch như ngân hàng trực tuyến.
Nhìn từ quan điểm người dùng, các kiểm tra trên rất quan trọng: bảo đảm hệ thống đủ khả năng làm việc trong môi trường thực.

Lưu ý không nhất thiết phải thực hiện tất cả các loại kiểm tra nêu trên. Tùy yêu cầu và đặc trưng của từng hệ thống, tuỳ khả năng và thời gian cho phép của dự án, khi lập kế hoạch, trưởng dự án sẽ quyết định áp dụng những loại kiểm tra nào.

Hình 2: Mối tương quan giữa phát triển và kiểm tra phần mềm

4. Acceptance Test - Kiểm tra chấp nhận sản phẩm

Thông thường, sau giai đoạn System Test là Acceptance Test, được khách hàng thực hiện (hoặc ủy quyền cho một nhóm thứ ba thực hiện). Mục đích của Acceptance Test là để chứng minh PM thỏa mãn tất cả yêu cầu của khách hàng và khách hàng chấp nhận sản phẩm (và trả tiền thanh toán hợp đồng).

Acceptance Test có ý nghĩa hết sức quan trọng, mặc dù trong hầu hết mọi trường hợp, các phép kiểm tra của System Test và Accepatnce Test gần như tương tự, nhưng bản chất và cách thức thực hiện lại rất khác biệt.

Đối với những sản phẩm dành bán rộng rãi trên thị trường cho nhiều người sử dụng, thông thường sẽ thông qua hai loại kiểm tra gọi là Alpha Test và Beta Test. Với Alpha Test, người sử dụng (tiềm năng) kiểm tra PM ngay tại nơi PTPM, lập trình viên sẽ ghi nhận các lỗi hoặc phản hồi, và lên kế hoạch sửa chữa. Với Beta Test, PM sẽ được gửi tới cho người sử dụng (tiềm năng) để kiểm tra ngay trong môi trường thực, lỗi hoặc phản hồi cũng sẽ gửi ngược lại cho lập trình viên để sửa chữa.

Thực tế cho thấy, nếu khách hàng không quan tâm và không tham gia vào quá trình PTPM thì kết quả Acceptance Test sẽ sai lệch rất lớn, mặc dù PM đã trải qua tất cả các kiểm tra trước đó. Sự sai lệch này liên quan đến việc hiểu sai yêu cầu cũng như sự mong chờ của khách hàng. Ví dụ đôi khi một PM xuất sắc vượt qua các phép kiểm tra về chức năng thực hiện bởi nhóm thực hiện dự án, nhưng khách hàng khi kiểm tra sau cùng vẫn thất vọng vì bố cục màn hình nghèo nàn, thao tác không tự nhiên, không theo tập quán sử dụng của khách hàng v.v…

Gắn liền với giai đoạn Acceptance Test thường là một nhóm những dịch vụ và tài liệu đi kèm, phổ biến như hướng dẫn cài đặt, sử dụng v.v… Tất cả tài liệu đi kèm phải được cập nhật và kiểm tra chặt chẽ.

Hình 3: Các loại kiểm tra khác nhau trong System Test

5. Regression Test - Kiểm tra hồi quy

Trước tiên cần khẳng định Regression Test không phải là một mức kiểm tra, như các mức khác đã nói ở trên. Nó đơn thuần kiểm tra lại PM sau khi có một sự thay đổi xảy ra, để bảo đảm phiên bản PM mới thực hiện tốt các chức năng như phiên bản cũ và sự thay đổi không gây ra lỗi mới trên những chức năng vốn đã làm việc tốt. Regression test có thể thực hiện tại mọi mức kiểm tra.

Ví dụ: một PM đang phát triển khi kiểm tra cho thấy nó chạy tốt các chức năng A, B và C. Khi có thay đổi code của chức năng C, nếu chỉ kiểm tra chức năng C thì chưa đủ, cần phải kiểm tra lại tất cả các chức năng khác liên quan đến chức năng C, trong ví dụ này là A và B. Lý do là khi C thay đổi, nó có thể sẽ làm A và B không còn làm việc đúng nữa.

Mặc dù không là một mức kiểm tra, thực tế lại cho thấy Regression Test là một trong những loại kiểm tra tốn nhiều thời gian và công sức nhất. Tuy thế, việc bỏ qua Regression Test là “không được phép” vì có thể dẫn đến tình trạng phát sinh hoặc tái xuất hiện những lỗi nghiêm trọng, mặc dù ta “tưởng rằng” những lỗi đó hoặc không có hoặc đã được kiểm tra và sửa chữa rồi!

TÓM TẮT

Trên đây là tổng quan về các mức và loại kiểm tra PM cơ bản. Thực tế nếu đi sâu vào từng mức và loại kiểm tra, còn có rất nhiều kiểm tra đặc thù khác nữa, mang tính chuyên biệt cho từng vấn đề hoặc từng loại ứng dụng. Tuy nhiên, những mức độ và loại kiểm tra nêu trên là cơ bản nhất và có thể áp dụng trong hầu hết các loại ứng dụng PM khác nhau.

Trong số báo tới chúng tôi sẽ giới thiệu những bước cơ bản của một quy trình KTPM, làm thế nào để đánh giá và cải tiến năng lực KTPM của một tổ chức thông qua mô hình TMM (Testing Maturity Model), một mô hình được các chuyên gia đánh giá khá tốt dành cho hoạt động KTPM.

(Sưu tầm)

27/3/15

Giới thiệu T3H ĐHKHTN ĐH QGHCM cơ sở Hà Nội

Hệ thống T3H được thành lập từ năm 1986, trực thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc Gia TPHCM là đơn vị đào tạo về Công nghệ thông tin hàng đầu tại Việt Nam. Chuyên đào tạo Lập trình, mạng máy tính, web, đồ họa đa truyền thông. Được cấp chứng chỉ ISO, đào tạo 30.000 lượt học viên mỗi năm. Có hai chương trình đào tạo gồm đào tạo dài hạn và ngắn hạn:
Thành tích của Hệ thống đào tạo CNTT T3H
Trải qua 28 năm hình thành và phát triển trong lĩnh vực đào tạo về Công nghệ thông tin, Hệ thống T3H đã trở thành đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực này trên cả nước với nhiều giải thưởng danh giá. Hơn 10 năm liền đạt các giải thưởng: “Huy chương vàng đào tạo CNTT ”, “Đơn vị đào tạo Công nghệ thông tin hàng đầu”, “Cúp bạc về đào tạo” do Hội CNTT HCM và Việt Nam trao tặng.
TTTH luôn chú trọng mở rộng quan hệ hợp tác của mình trong mọi hoạt động đào tạo. Hiện nay TTTH đang hợp tác với khoảng 15 đối tác tại Tp.HCM và hơn 20 đối tác ở các Tỉnh: Long An, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Bình Thuận, ĐakLak, Hà Nội, …
Hệ thống T3H cơ sở Hà Nội tọa lạc tại nhà A, Trường Cán bộ quản lý Văn hoá, thể thao và du lịch, đường Hồ Tùng Mậu, Mai Dịch, Từ Liêm. Từ khi thành lập tới nay hệ thống đã không ngừng phát triển và đổi mới, đa dạng hóa các khóa học cũng như chương trình đào tạo nhằm tối ưu hóa các dịch vụ dành cho học viên, giúp học viên không những vững vàng về kiến thức mà còn trau dồi các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng xử lý tình huống trong công việc.

25/3/15

Kiểm thử phần mềm là gì?

Software testing là một cuộc kiểm tra nhằm cung cấp cho các bên liên quan (khách hàng hay nhóm phát triển phần mềm,...) thông tin về chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ đang kiểm thử (under test). Software testing cũng cung cấp mục tiêu, cái nhìn độc lập về phần mềm, điều này cho phép việc đánh giá và hiểu rõ các rủi ro khi thực thi phần mềm. Các kỹ thuật kiểm thử bao gồm, nhưng không giới hạn, trong qui trình thực thi chương trình hoặc ứng dụng với mục đích tìm kiếm bug (lỗi, khiếm khuyết/nhược điểm).

Software testing cũng có thể xem như là quá trình thẩm định và thẩm tra (validating and verifying) phần mềm/chương trình/ứng dụng/sản phẩm để:

1. đáp ứng được các yêu cầu công việc và kỹ thuật đã được qui định trong thiết kế và trong lúc phát triển;
2. làm việc như mong đợi;
3. và có thể thực thi với các đặc tính giống nhau.

Software testing, phụ thuộc vào phương pháp kiểm thử được dùng, có thể được thực thi bất kỳ lúc nào trong qui trình phát triển phần mềm. Tuy nhiên, phần lớn việc kiểm thử bắt đầu sau khi có thiết kế chi tiết và sau khi code xong. Như vậy, phương pháp kiểm thử bị ảnh hưởng/chi phối bởi phương pháp phát triển phần mềm (qui trình phát triển phần mềm) đang sử dụng.

Các mô hình phát triển phần mềm khác nhau thì sẽ tập trung vào việc kiểm thử các điểm khác nhau trong qui trình phát triển. Các mô hình phát triển mới hơn như Agile, thường dùng test driven development và thay thế bằng phần phát triển của kiểm thử trong tay DEV, trước khi nó trở thành một nhóm test chính thức. Trong các mô hình cổ điển hơn, phần lớn việc thực thi test được tiến hành sau khi có thiết kế chi tiết (spec) và quá trình code đã hoàn thành.

Tester cơ bản

Vấn đề tự học tester, theo mình thì tốt cho mọi người, kể cả người có điều kiện tham gia các lớp học kiểm thử phần mềm. Như đã nói ở các bài viết trước khi tham gia bất kỳ khóa học Tester nào thì mọi người cũng nên tự tìm hiểu trước về kiểm thử phần mềm để tự mình trang bị một số kiến thức cơ bản, điều này sẽ giúp ích chúng ta trong lúc tham gia học, vì nếu không hiểu gì về kiểm thử phần mềm và một số khái niệm cơ bản, thì rất khó tiếp thu kiến thức do giáo viên truyền đạt. Nếu giáo viên kỹ, họ sẽ tìm cách, tìm ví dụ để giải thích cho các bạn hiểu mọi thứ, nhưng ít khi nào gặp được giáo viên như vậy, vì đa số họ sợ không kịp giờ (cháy giáo án), và thực tế nếu người có tâm huyết thì họ mới tốn nhiều công sức để giải thích cho mọi người trong lớp hiểu, còn nếu đi làm vì lương thì họ sẽ không cần 100% học viên hiểu mà chỉ cần ~60% hiểu là được rồi :D (cá nhân mình nghĩ vậy chứ không có đề tài nghiên cứu khoa học nào cho phần này, mình nghĩ nhiều người sẽ đồng ý với mình - kết quả này cũng dựa vào kiến thức của một số bạn đã từng tham gia một khóa tester basic mà mình biết, vì mình đã giúp các bạn đó update cv, ôn lại kiến thức và cách trả lời phỏng vấn xin việc,...).



Nếu so sánh một người tự học tester với một người đi học một khóa học tester ở trung tâm nào đó, thì chắc chắn bạn đi học 1 khóa tester vẫn nắm được một số kiến thức nhất định nhiều hơn bạn tự học tester. Nhưng nếu bạn nào đã tự học rồi sau đó theo học một khóa tester tương đương thì chắc chắn sẽ thu được nhiều kiến thức hơn nữa.

Sau đây là một số gợi ý để các bạn có thể tự học tester:
1. Kiểm thử phần mềm là gì?
2. Qui trình kiểm thử phần mềm trong Vòng đời phát triển phần mềm
3. Các hoạt động kiểm thử phần mềm trong qui trình kiểm thử phần mềm
4. Loại test và mức test
5. Test plan và cách viết test plan
6. Test cases và cách viết test cases
7. Nội dung của bug report (cách post bug)
8. Automation Test và cách áp dụng test tool vào một tổ chức (công ty)


Nay testingvn đã mở các khoá học nhằm giúp các bạn tìm hiểu về testing trong thời gian ngắn nhất ở cả cấp độ cơ bản - Fresher - và nâng cao - ISTQB.